Trò chơi vương quyền 3B – Nước mắt sói tuyết

Trò chơi vương quyền 3B – Nước mắt sói tuyết

Tác giả: George R.R. Martin

Dịch giả: Khánh Thủy

Số chương: 28

Tóm tắt: Trò chơi vương quyền gồm 7 quyển kể về cuộc chiến vương quyền giữa các gia tộc lớn trong thế giới giả tưởng Westeros. Và cùng lúc đó một thế lực khác đáng sợ hơn đang trỗi dậy từ bóng tối

Pháo đài đôi ngự trên một hòn đảo và soi bóng dưới dòng nước xanh phẳng lặng. Khi gió thổi, những gợn sóng lăn tăn nhè nhẹ trên mặt hồ như những đứa trẻ đang chơi trò đuổi bắt. Những cây sồi to lớn rậm rạp vươn thẳng phía trên bờ hồ, cùng với những quả đấu rụng. Cách đó không xa là một ngôi làng, hoặc những gì còn lại của một ngôi làng.

Đó là ngôi làng đầu tiên mà đám trẻ nhìn thấy kể từ khi chúng rời khỏi chân đồi. Meera đi trước do thám để chắc chắn không có ai núp trong đống đổ nát. Chị lướt vào rồi lại lướt ra giữa những thân cây sồi và cây táo, tay nắm chặt tấm lưới và cây đinh ba, khiến ba con hươu hoảng sợ chạy biến vào giữa rừng cây. Mùa Hè thấy vậy rượt theo ngay tắp lự. Bran nhìn con thú nhảy cẫng lên và trong một giây, cậu không mong gì hơn là được đội lớp da sói tuyết và chạy theo Mùa Hè, nhưng Meera vẫy tay ra hiệu cho bọn họ đi tới. Hết sức miễn cưỡng, cậu quay lưng về phía Mùa Hè và hối thúc Hodor đi vào làng. Jojen đi cùng họ.

Đường đi từ đây đến Tường Thành toàn là bãi cỏ, những cánh đồng bị bỏ hoang và ngọn đồi thấp trập trùng nối nhau, đồng cỏ cao vút và những vũng lầy trũng. Việc di chuyển dễ hơn là đi trên ngọn núi phía sau, nhưng chặng đường này tạo quá nhiều khoảng trống, khiến Meera thấy không yên tâm. “Tôi thấy lộ liễu quá,” chị thú nhận, “không có chỗ nào để nấp.”

“Ai cai trị vùng đất này vậy?” Jojen hỏi Bran.

“Đội Tuần Đêm,” cậu trả lời. “Vùng đất này tên là Quà Tặng. Quà Tặng Mới, và là phía bắc của vùng đất Quà Tặng của Brandon.” Maester Luwin đã dạy cậu điều đó. “Brandon Người Kiến Thiết đã trao toàn bộ đất đai ở phía nam của Tường Thành cho những anh em áo đen, với diện tích lên tới 25 dặm. Để được họ… được họ đến sinh sống và giúp đỡ.” Bran thấy tự hào vì cậu vẫn nhớ những kiến thức này. “Một số học sĩ nói rằng người ấy là gã Brandon nào khác, không phải người kiến thiết, nhưng đó vẫn là Quà Tặng của Brandon. Mấy nghìn năm sau, hoàng hậu Alysanne ghé thăm Tường Thành cùng con rồng Cánh Bạc, và bà thấy Đội Tuần Đêm rất dũng cảm, nên đã đề nghị nhà vua lúc bấy giờ nhân đôi diện tích của vùng đất này lên thành 50 dặm. Vùng đất đó được đặt tên là Quà Tặng Mới.” Cậu vẫy vẫy bàn tay. “Đây này. Tất cả chỗ này.”

Bran nhận thấy nhiều năm nay ngôi làng này không có ai sinh sống. Tất cả các ngôi nhà đều đổ nát. Quán trọ cũng vậy. Nhìn qua cũng thấy quán trọ đó không còn nguyên vẹn, giờ chỉ còn lại ống khói và hai bức tường nứt nẻ nằm giữa chục cây táo. Một cây mọc thẳng lên từ phòng khách, sàn nhà phủ kín một lớp lá nâu ẩm ướt và những quả táo thối rữa. Không khí nồng nặc mùi chua. Meera dùng ngạnh chọc mấy quả táo để tìm quả ăn được, nhưng quả nào cũng thối và bị sâu.

Đây là một nơi yên bình, tĩnh lặng và thân thiện để lưu trú, nhưng Bran nghĩ có điều gì đó không ổn về quán trọ kia, và dường như Hodor cũng cảm nhận được điều đó. “Hodor?” cậu nói giọng lúng túng. “Hodor? Hodor ơi?”

“Vùng đất này tốt.” Jojen nắm một nắm đất bẩn và cọ cọ giữa các kẽ tay. “Một ngôi làng, một quán trọ, một pháo đài chắc chắn trên đảo, tất cả những cây táo này… nhưng Bran, người dân đâu rồi? Tại sao họ lại bỏ nơi này mà đi?”

“Họ sợ đám dân du mục,” Bran nói. “Đám dân du mục tràn qua Tường Thành hoặc đi xuyên qua các ngọn núi đến cướp bóc, ăn trộm và bắt phụ nữ đi. Nếu chúng bắt được cậu, chúng sẽ nhét sọ cậu vào một cái cốc to để uống máu, Già Nan thường kể như vậy. Vào thời Brandon hoặc thời hoàng hậu Alysanne, Đội Tuần Đêm không mạnh như bây giờ, nên rất nhiều dân du mục vượt được cửa ải. Những nơi gần Tường Thành nhất bị cướp bóc nhiều đến mức người dân phải chuyển đến phía nam, sinh sống trên các ngọn núi hoặc đến vùng đất của Umber phía tây vương lộ. Người của Greatjon cũng bị cướp bóc, nhưng không bị cướp nhiều như cư dân sống trên vùng đất Quà Tặng.”

Jojen Reed chậm rãi quay đầu và lắng nghe âm điệu mà chỉ cậu ta mới nghe thấy. “Chúng ta phải ẩn náu tại đây. Một cơn bão đang đến. Tệ lắm.”

Bran ngẩng lên nhìn trời. Hôm nay là một ngày thu đẹp, trong xanh, có nắng và ấm áp, nhưng phía tây đang có mây đen, và dường như gió đang lên. “Quán trọ không có nóc và chỉ còn hai bức tường thôi,” cậu nói. “Chúng ta phải đi vào pháo đài.”

“Hodor,” Hodor nói. Có lẽ anh ta cũng đồng ý.

“Bran, chúng ta không có thuyền.” Meera hờ hững lấy cây đinh ba chọc chọc đám lá.

“Có một con đường đắp cao. Bằng đá, và khuất dưới nước. Chúng ta đi bộ được.” Họ có thể đi bộ; còn cậu phải cưỡi trên lưng Hodor, nhưng ít nhất như vậy cậu cũng được khô ráo.

Hai chị em Nhà Reed nhìn nhau. “Sao ngài biết?” Jojen hỏi. “Hoàng tử, ngài từng đến đây rồi sao?”

“Chưa. Già Nan nói cho tôi biết. Pháo đài có một chóp vàng, thấy không?” Cậu chỉ về phía hồ. Mọi người có thể nhìn thấy những mảng vàng được dát quanh các lỗ châu mai. “Hoàng hậu Alysanne ngủ ở đó, vậy nên họ dát vàng để thể hiện lòng tôn kính với bà.”

“Một con đường đắp cao ư?” Jojen nhìn con hồ. “Ngài chắc chứ?”

“Chắc mà,” Bran nói.

Meera dễ dàng tìm thấy đoạn đường đó; một lối đi bằng đá rộng ba thước dẫn thẳng vào lòng hồ. Chị dẫn đường từng bước, từng bước thận trọng với cây đinh ba đi trước để thăm dò. Họ nhìn thấy đoạn đường đó trồi lên từ dòng nước, chạy thẳng đến hòn đảo và cuối cùng là một dãy tam cấp bằng đá dẫn thẳng đến cổng pháo đài.

Con đường, các bậc tam cấp, và cánh cửa nằm trên một đường thẳng khiến người ta nghĩ lối đi này chạy thẳng tắp, nhưng không phải vậy. Dưới lòng hồ, lối đi uốn khúc hình chữ chi và được khoảng một phần ba đoạn đường quanh hòn đảo, lối đi uốn khúc trở lại. Các đoạn ngoặt rất nguy hiểm, lối đi dài đồng nghĩa với việc bất cứ kẻ nào đến gần đều bị lộ diện trước những mũi tên lửa từ pháo đài. Những bậc đá được che giấu cũng rất trơn; hai lần Hodor suýt trượt chân và kêu “HODOR!” cảnh báo trước khi lấy lại thăng bằng. Lần thứ hai anh ta suýt ngã khiến Bran sợ thót tim. Nếu Hodor ngã xuống hồ trong khi cậu vẫn ngồi trong cái thúng trên lưng anh ta, cậu sẽ bị chết chìm, nhất là nếu anh chàng chăn ngựa to béo này hoảng hốt và quên mất Bran đang trên lưng mình, vì đôi lúc anh ta vẫn quên béng như vậy. Có lẽ chúng ta nên ở lại quán trọ, bên dưới cây táo, cậu thầm nghĩ, nhưng lúc cậu nghĩ được vậy thì đã quá muộn.

Thật may mắn là Hodor không bị trượt chân lần nào nữa, và nước dâng lên không quá hông Hodor, nhưng ngập đến ngực hai chị em Nhà Reed. Chẳng mấy chốc họ đã đặt chân lên hòn đảo, rồi leo bậc thang dẫn lên pháo đài. Cánh cửa vẫn chắc lắm, mặc dù tấm ván nặng làm bằng gỗ sồi đã bị cong vẹo sau nhiều năm và không thể đóng khít lại được. Meera xô cửa mở ra, bản lề sắt gỉ sét kêu cót két. Rầm đỡ rất thấp. “Hodor, cúi xuống,” Bran nói, dù vậy Bran vẫn bị cộc đầu vào cửa. “Đau đấy nhé,” cậu càu nhàu.

“Hodor,” Hodor nói và đứng thẳng người lên.

Họ thấy mình đứng trong một căn phòng bọc sắt tối tăm, gần như không đủ rộng cho cả bốn người họ. Những bậc thang được xây gắn vào bức tường bên trong của tòa tháp và uốn cong lên sang trái, uốn cong xuống sang phải, phía sau là khung chắn ngang bằng sắt. Bran ngẩng lên và nhìn thấy một khung chắn khác ngay trên đầu. Có một cái lỗ giết người ở ngay bên trên. Thật vui vì hiện giờ trên đó không có ai đổ dầu sôi lên đầu bọn họ.

Hai khung chắn ngang đều bị khóa, nhưng các thanh sắt hoen gỉ. Hodor nắm chặt cánh cửa bên trái và kéo mạnh, vừa ra sức kéo vừa cằn nhằn. Không hề suy chuyển. Anh ta cố đẩy lần nữa, nhưng không được. Anh ta lắc các thanh chắn, vừa đá vừa huých mạnh người và dùng bàn tay to bự đấm vào bản lề, cho đến khi bụi gỉ sắt bay tứ tán, nhưng cánh cửa sắt vẫn chẳng nhúc nhích. Cánh cửa dưới thành vòm cũng không dễ dàng hơn. “Không có cách vào trong đâu,” Meera nói và nhún vai.

Cái lỗ giết người ở ngay trên đầu Bran, vì cậu ngồi trong cái thúng trên lưng Hodor. Cậu với tay lên túm lấy các thanh sắt và thử lắc lắc. Khi cậu kéo xuống, khung chắn ngang tụt xuống khỏi mái vòm cùng với gỉ sắt và đá vụn. “HODOR!” Hodor hét lên. Khung chắn ngang bằng sắt nặng trịch khiến Bran bị cụng đầu thêm lần nữa, và rơi xuống sát chân Jojen khi cậu xô thanh chắn ra khỏi người. Meera cười khì. “Hoàng tử, cậu thấy rồi nhé,” chị nói, “cậu khỏe hơn cả Hodor đấy.” Bran đỏ bừng mặt.

Khung sắt ngang không còn nữa, Hodor nâng Meera và Jojen lên trên qua lỗ giết người. Cậu bé người đầm lầy ẩn dật nhấc hai cánh tay Bran và kéo cậu lên. Đưa Hodor lên là khó nhất. So với Bran, anh ta quá nặng để chị em Nhà Reed kéo lên. Cuối cùng, Bran bảo anh ta đi tìm vài viên đá to. Hòn đảo này không thiếu đá, và Hodor có thể chồng đá đủ cao để bám lấy rìa lỗ chui lên. “Hodor,” anh ta thở hổn hển nhưng có vẻ rất vui sướng, và cười khì với bọn họ.

Họ đứng trong một mê cung các xà lim nhỏ, tối tăm và trống rỗng, lần này Meera đi khám phá trước, cho đến khi chị thấy đường quay trở lại các bậc thang. Càng leo lên trên, họ càng thấy sáng hơn; lên đến tầng thứ ba, bức tường dày bên ngoài được khoét để đặt tên, tường trên tầng bốn là cửa sổ thật, tầng năm cao nhất và rộng rãi với một căn phòng và những cánh cửa tò vò ở ba mặt tường mở ra ban công nhỏ bằng đá. Mặt tường thứ tư là một căn phòng riêng được xây trên một cây cầu trượt nước chạy thẳng xuống hồ.

Trời đầy mây u ám khi họ lên tới nóc pháo đài, đám mây phía tây đen kịt. Gió thổi mạnh khiến áo choàng của Bran bay phần phật. “Hodor,” Hodor nói khi nghe thấy tiếng phần phật đó.

Meera xoay tít người theo hình tròn. “Tôi cảm thấy mình như người khổng lồ ấy, khi được đứng cao hơn cả thế giới này.”

“Ở Neck có khối cây cao gấp đôi pháo đài này,” cậu em trai nhắc cho chị nhớ.

“Ừ, nhưng quanh đó cũng có nhiều cây cao như thế,” Meera nói. “Ở Neck thế giới có vẻ gần lắm, và bầu trời nhỏ hơn nhiều. Ở đây thì… này, em có cảm nhận được gió không? Em thử nhìn xem thế giới rộng lớn thế nào.”

Đúng vậy, đứng từ đây họ nhìn thấy những con đường dài tăm tắp. Phía nam hiện lên những chân đồi, và phía sau đó là những ngọn núi màu xám. Cánh đồng của Quà Tặng Mới trải ra mênh mang, hun hút theo tầm mắt. “Giá như đứng từ đây chúng ta nhìn thấy Tường Thành thì tốt,” Bran nói giọng đầy thất vọng. “Ngốc quá, chúng ta vẫn còn cách đó 50 dặm nữa.” Chỉ nói vậy thôi cũng khiến Bran thấy mệt và lạnh. “Jojen à, chúng ta sẽ làm gì khi đến Tường Thành? Chú tôi vẫn nói Tường Thành to lắm. Cao tới hơn 200 mét và dày đến mức các cánh cổng trông giống hệt các địa đạo được đào xuyên lớp băng. Làm sao chúng ta đi qua đó được để tìm con quạ ba mắt?”

“Dọc Tường Thành có nhiều lâu đài bị bỏ hoang lắm, tôi nghe nói vậy,” Jojen trả lời. “Đó là những pháo đài do Đội Tuần Đêm xây, nhưng lại bị bỏ hoang. Một trong những pháo đài đó có thể giúp chúng ta đi xuyên được.”

Già Nan gọi đó là những lâu đài ma. Maester Luwin có lần cũng bắt Bran học thuộc tên của từng pháo đài dọc Tường Thành. Nhớ được chừng ấy tên khó lắm; có tới mười chín cái tên tất cả. Tại bữa đại tiệc đón vua Robert đến Winterfell, Bran đã đọc lại nguyên chừng ấy cái tên cho chú Benjen nghe, tính từ đông sang tây và tây sang đông. Lúc đó Benjen Stark cười và nói, “Bran, cháu biết nhiều hơn cả chú đấy. Lẽ ra cháu phải là Đội Trưởng Đội Biệt Kích mới đúng. Chú sẽ ở đây thay thế vị trí của cháu.” Nhưng đó là trước khi Bran ngã. Khi cậu tỉnh dậy và bị gãy chân, chú cậu đã quay trở lại Hắc Thành mất rồi.

“Chú tôi nói mỗi khi một tòa lâu đài bị bỏ hoang, các cánh cổng phải được bít băng và đá,” Bran nói.

“Thế thì chúng ta phải mở cổng vậy,” Meera nói.

Điều đó khiến cậu không vui. “Chúng ta không nên làm vậy. Những điều tồi tệ có thể xuất hiện từ phía trong. Chúng ta chỉ cần đến Hắc Thành và yêu cầu tướng chỉ huy cho chúng ta qua thôi.”

“Hoàng tử,” Jojen nói, “chúng ta phải tránh xa Hắc Thành, cũng như phải tránh xa vương lộ. Những chỗ đó thường đông người.”

“Người của Đội Tuần Đêm,” Bran nói. “Họ đều nói lời tuyên thệ là không tham gia vào chiến tranh và những việc tương tự.”

“Phải,” Jojen nói, “nhưng chỉ cần một người chối bỏ lời thề cũng đủ bán bí mật về cậu cho người Đảo Iron hoặc gã con hoang của Bolton. Và chúng ta cũng không biết chắc liệu Đội Tuần Đêm có đồng ý cho chúng ta qua không. Biết đâu họ lại bắt ta quay lại thì sao.”

“Nhưng cha tôi là bạn của Đội Tuần Đêm, chú tôi là Đội Trưởng Đội Biệt Kích. Có thể chú ấy biết quạ ba mắt

sống ở đâu. Và anh Jon cũng ở Hắc Thành nữa.” Bran rất mong được gặp lại anh Jon và chú ruột. Hội anh em áo đen cuối cùng đến Winterfell nói rằng chú Benjen Stark đã biến mất trong một cuộc đi rừng, nhưng chắc chắn giờ này chú quay lại rồi. “Tôi cá là Đội Tuần Đêm sẽ cho chúng ta ngựa,” cậu tiếp.

“Im lặng.” Jojen đưa một tay che mắt và nhìn về phía mặt trời đang lặn. “Nhìn kìa. Đằng kia có gì đó… một người cưỡi ngựa thì phải. Cậu thấy không?”

Dù đã lấy tay che trên mắt nhưng Bran vẫn phải nheo mắt lại. Ban đầu cậu không thấy gì, cho đến khi một sự chuyển động khiến cậu nhìn kỹ hơn. Ban đầu cậu tưởng đó là Mùa Hè, nhưng không phải. Một người đàn ông trên lưng ngựa.

“Hodor?” Hodor cũng đưa tay che mắt, nhưng anh ta lại nhìn sang hướng khác. “Hodor?”

“Ông ta không vội đâu,” Meera nói, “nhưng ông ta đang đi về phía ngôi làng này, tôi thấy vậy.”

“Tốt nhất chúng ta nên vào trong, trước khi bị nhìn thấy,” Jojen nói.

“Mùa Hè đang ở gần ngôi làng,” Bran phản đối.

“Mùa Hè sẽ ổn thôi,” Meera hứa hẹn. “Chỉ là một gã đàn ông cưỡi một con ngựa kiệt sức thôi mà.”

Một vài hạt mưa bắt đầu rơi tí tách trên đá khi họ lui về phía sàn nhà bên dưới. Thật đúng lúc; chẳng mấy chốc mưa đã rơi như trút nước. Ngay cả qua những bức tường dày dặn, họ vẫn nghe thấy tiếng mưa quất trên mặt hồ. Họ ngồi trên sàn trong căn phòng tròn trống trải, giữa bóng tối u ám. Ban công hướng bắc nhìn thẳng ra phía ngôi làng bị bỏ hoang. Meera trườn trên sàn để liếc ngang con hồ xem người đàn ông cưỡi ngựa kia thế nào. “Ông ta trú mưa trong đống đổ nát của quán trọ,” chị nói khi quay trở lại với mấy người kia. “Hình như ông ta đang đốt lửa trong lò.”

“Giá như chúng ta cũng có lửa,” Bran nói. “Tôi lạnh lắm. Dưới bậc thang có ít gỗ mục, tôi nhìn thấy mà. Hay chúng ta bảo Hodor chẻ ra đốt nhé.”

Hodor rất khoái ý tưởng đó. “Hodor,” anh ta nói đầy hy vọng.

Jojen lắc đầu. “Có lửa sẽ có khói. Khói bốc lên từ pháo đài này có thể nhìn thấy được từ rất xa.”

“Nếu đâu đó có người để nhìn thấy,” chị gái cậu ta cãi cự.

“Trong làng có một người.”

“Một người thôi mà.”

“Một người là đủ tiết lộ bí mật của Bran cho kẻ thù, nếu gã ta là người xấu. Chúng ta vẫn còn nửa con vịt từ hôm qua. Ta nên ăn và nghỉ ngơi. Sáng mai người kia sẽ tiếp tục đi đường của ông ta, và chúng ta cũng sẽ đi đường của mình.”

Jojen thắng; luôn là vậy. Meera chia thịt vịt thành bốn phần. Hôm qua chị dùng lưới bắt được một con vịt, khi nó cố chui ra khỏi vũng lầy. Thịt không ngon như khi được nướng nóng giòn trên xiên, nhưng ít nhất họ không phải chịu cảnh bụng đói đi ngủ. Bran và Meera chia nhau phần ức, Jojen ăn cái đùi. Hodor ăn phần cánh và chân, vừa ăn vừa lẩm bẩm “Hodor” và liếm láp mỡ trên ngón tay sau mỗi miếng cắn. Hôm đó đến lượt Bran kể chuyện, vậy là cậu kể cho họ nghe về một người tên là Brandon Stark, hay còn gọi là Brandon Thợ Đóng Tàu, cũng là người giương buồm đến tận Biển Hoàng Hôn.

Hoàng hôn buông xuống khi đám trẻ ăn hết thịt vịt và nghe xong câu chuyện, mà mưa vẫn rơi. Bran tự hỏi không biết Mùa Hè đang lang thang ở đâu và liệu nó có bắt được con hươu nào không. Không gian màu xám bao trùm tòa tháp và chầm chậm chuyển sang tối hẳn. Hodor đâm bồn chồn và đi lại một lúc, anh ta sải từng bước dài quanh các bức tường rồi dừng lại ngó đăm đăm vào từng ngóc ngách trong phòng, như thể để quên thứ gì trong đó. Jojen đứng cạnh ban công hướng bắc, giấu mình trong bóng tối và nhìn ra ngoài trời tối và màn mưa. Đâu đó ở hướng bắc, một tia chớp xé toạc bầu trời, làm sáng cả bên trong tòa lâu đài trong một thoáng. Hodor nhảy dựng lên sợ hãi. Bran đếm đến tám, đợi sấm rền. Khi sấm nổ, Hodor hét lên, “Hodor!”

Mình mong Mùa Hè cũng không sợ, Bran nghĩ bụng. Những con chó trong chuồng ở Winterfell vẫn luôn bị hoảng sợ trước tiếng sấm chớp, y như Hodor vậy. Mình nên đến xem anh ta thế nào, để giúp anh bình tĩnh…

Chớp lại nhá lên, và lần này sấm rền vang khi cậu mới đếm đến sáu. “Hodor!” Hodor lại hét lên. “HODOR! HODOR!” Anh ta vồ lấy thanh gươm của mình, như thể muốn đánh nhau với bão.

Jojen nói, “Hodor, im lặng nào. Bran, ngài bảo anh ta đừng hét nữa. Meera, chị lấy gươm của anh ta có được không?”

“Chị sẽ thử xem sao.”

“Hodor, im nào,” Bran nói. “Im lặng. Đừng có ngốc nghếch nữa. Ngồi xuống.”

“Hodor?” Anh ta ngoan ngoãn đưa thanh gươm cho Meera, nhưng nét mặt vẫn đầy nỗi lo âu.

Jojen quay trở lại với bóng tối, và cả ba người đều nghe thấy anh ta cố nén không kêu lên.

“Gì vậy?” Meera hỏi.

“Có người trong làng.”

“Người chúng ta vừa thấy sao?”

“Người khác. Có vũ khí. Em nhìn thấy một cái rìu, và nhiều giáo lắm.” Trông Jojen không giống một cậu nhóc chút nào. “Em thấy họ khi chớp nháy lên, họ đang di chuyển bên dưới các thân cây.”

“Bao nhiêu người?”

“Nhiều lắm. Không đếm được.”

“Có cưỡi ngựa không?”

“Không.”

“Hodor.” Hodor có vẻ sợ hãi. “Hodor. Hodor.”

Chính Bran cũng thấy sợ, mặc dù cậu không muốn nói vậy trước mặt Meera. “Nếu họ đến đây thì sao?”

“Không đâu.” Chị ngồi xuống cạnh cậu. “Họ đến làm gì?”

“Trú mưa.” Giọng Jojen đầy chán nản. “Trừ khi bão tan. Chị Meera, chị xuống dưới chắn cửa lại được không?”

“Chị còn không đóng được cửa ấy chứ. Cửa bị vênh quá rồi. Nhưng họ cũng không qua được mấy cánh cổng sắt ấy đâu.”

“Có chứ. Họ có thể phá khóa, hoặc phá bản lề. Hoặc trèo lên qua lỗ giết người y như chúng ta vậy.”

Chớp lại rạch ngang trời, Hodor thút thít khóc. Khi sét đánh ngang mặt hồ. “HODOR!” anh ta rống lên, áp chặt hai tay vào tai và ngã lăn quay trong bóng tối. “HODOR! HODOR! HODOR!”

“ĐỪNG!” Bran hét lại. “ĐỪNG CÓ KÊU HODOR NỮA!”

Chẳng ích gì. “HOOOODOR!” anh ta vẫn tiếp tục kêu lên. Meera cố tóm lấy và giúp anh bình tĩnh, nhưng anh ta quá khỏe. Hodor vô thức hất văng chị sang bên chỉ bằng một cái vung tay nhẹ. “HOOOODOOOOR!” anh chàng coi ngựa hét lên thất thanh như muốn xé toang màn đêm, và lúc này thậm chí Jojen cũng hét toáng theo, khiến cả Bran và chị Meera phải gào lên bắt cậu ta im miệng.

“Im lặng!” Bran lạc giọng sợ hãi và nhoài người ra cố tóm chân Hodor, cố tóm, cố tóm cho bằng được.

Hodor loạng choạng rồi im lặng. Anh ta chầm chậm lắc đầu sang hai bên, ngồi rịt xuống sàn, hai chân bắt chéo nhau. Khi sấm nổ, dường như anh ta không còn nghe thấy nữa. Bốn người họ ngồi trong tòa tháp tối mịt, sợ không dám thở.

“Bran, cậu đã làm gì vậy?” Meera thì thào hỏi.

“Không làm gì hết.” Bran lắc đầu. “Tôi không biết.” Nhưng cậu thực sự đã làm gì đó. Tôi tóm anh ta, giống như tôi tóm lấy Mùa Hè. Trong một nửa nhịp tim, nó chính là Hodor. Điều đó khiến cậu sợ hãi.

“Có gì đó đang diễn ra bên kia hồ,” Jojen nói. “Tôi nghĩ mình nhìn thấy một người chỉ tay về phía tòa tháp này.”

Mình sẽ không sợ. Cậu là hoàng tử của Winterfell, là con trai của Eddard Stark, sắp là một người trưởng thành và là một người biến hình, không còn là đứa bé con như Rickon nữa. Mùa Hè cũng không sợ đâu. “Có thể họ là đám người Umber,” cậu nói. “Hoặc là người Knott, Norrey hoặc Flint xuống núi, và cũng có thể là anh em của Đội Tuần Đêm. Jojen, họ có mặc áo choàng đen không?”

“Thưa hoàng tử, vào đêm tối, áo choàng màu gì cũng thành màu đen hết. Chớp nhanh quá, tôi không kịp nhìn xem họ mặc áo gì.”

Meera có vẻ thận trọng. “Nếu họ là anh em áo đen, họ sẽ cưỡi ngựa, phải không?”

Bran lại nghĩ về việc khác. “Không sao đâu,” cậu tự tin nói. “Dù muốn họ cũng không lên chỗ chúng ta được. Trừ khi họ có thuyền, hoặc họ cũng biết về con đường đắp cao kia.”

“Con đường đắp cao!” Meera xoa tóc Bran rối bù và hôn lên trán cậu. “Hoàng tử dễ thương của tôi! Jojen, ngài ấy nói đúng đấy, họ không biết về lối đi kia đâu. Ngay cả khi họ có biết thì tối mù thế này họ cũng không tìm được đường sang đâu.”

“Nhưng đêm rồi sẽ tàn. Nếu họ ở lại đến tận sáng mai…” Jojen khiến ba người còn lại không nói nên lời. Một lúc sau, cậu ta nói, “họ đang cho thêm củi vào đống lửa mà người đàn ông đầu tiên kia đốt lên.” Chớp lại nhá lên, ánh sáng giăng khắp tòa tháp và khiến hình ảnh của họ hiện rõ thành từng cái bóng. Hodor vừa ấm ứ vừa đu đưa người tới lui.

Trong khoảnh khắc chớp lóe đó, Bran cảm nhận được nỗi sợ hãi của Mùa Hè. Cậu nhắm tịt mắt rồi mở con mắt thứ ba, và làn da vuột khỏi thân thể cậu như một chiếc áo khoác bị rơi xuống khi cậu để lại tòa tháp phía sau lưng…

…và nó thấy mình đang đứng trong mưa, bụng no ứ thịt hươu, nấp dưới bụi rậm khi chớp giật và sấm nổ trên đầu. Mùi táo thối và lá ẩm ướt gần như nhấn chìm mùi của con người, nhưng cái mùi đó vẫn lởn vởn. Nó nghe thấy tiếng leng keng và nhìn thấy con người đi lại dưới các tán cây. Một gã cầm gậy dò dẫm đi ngang qua, bộ da lông thú trùm đầu gã, khiến gã thành kẻ đui mù và điếc. Con sói đi quanh gã, dù cách xa, nấp sau một bụi gai ướt sũng và bên dưới những cành cây trơ trụi của một cây táo. Nó nghe thấy tiếng họ nói, và bên dưới mùi mưa xen lẫn mùi lá ấy là mùi sợ hãi…

About The Author

Ngo David

Power is Power